Khu vực đồng bằng sông Hồng và một số vùng
khác của Việt Nam bị nhiễm độc asen (thường được biết đến với tên gọi
"thạch tín") trong nước ngầm không phải là mới. Nhưng thạch tín từ đâu
mà ra? Làm thế nào để nhận biết được mình đang sống trong khu vực có thể
bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm thạch tín và tìm cách hạn chế tốt nhất ô nhiễm
thạch tín trong điều kiện hiện có lại là những băn khoăn chưa từng được
giải đáp thỏa đáng.
Thạch tín ở ngay dưới chân
Trong một kết quả nghiên cứu
từng được công bố, Hà Nội nằm trong số 10 địa phương có nguồn nước ngầm
bị nhiễm asen vượt mức cho phép. Trong số các địa phương này còn có Hưng
Yên, An Giang, Đồng Tháp… Tại Hà Nội, Thanh Trì và Từ Liêm là hai nơi
được đánh giá là bị nhiễm asen trong nước ngầm nặng nhất.
Còn theo một nghiên cứu khác,
với thực trạng sử dụng nước như hiện nay, ước tính có khoảng 17 triệu
người Việt Nam có nguy cơ bị nhiễm thạch tín do sử dụng nguồn nước ngầm
bị ô nhiễm. Thạch tín là một chất độc không màu, không mùi vị, không thể
phát hiện được bằng giác quan, khi tích tụ trong cơ thể trong nhiều năm
sẽ gây ra những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư các cơ quan nội tạng,
bệnh tim mạch… cũng như một số bệnh về tâm trí. Các triệu chứng bên
ngoài đầu tiên của người uống nước nhiễm asen là xuất hiện các đốm sẫm
màu trên thân thể hay đầu các chi, đôi khi xuất hiện các vùng sừng hóa
trên bàn tay, bàn chân…
Cách đây ít lâu, Trung tâm Nước
sinh hoạt và Vệ sinh môi trường thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Hà Nội đã lấy 1.640 mẫu nước từ các giếng khoan hộ gia đình,
trường mầm non, trạm y tế và 187 trạm cấp nước tại 420 xã, thị trấn
thuộc khu vực ngoại thành để làm xét nghiệm.
Qua phân tích, kết hợp với các
tài liệu quan trắc cho thấy nguồn nước ngầm bị nhiễm bẩn ở nhiều nơi.
Chẳng hạn như tại xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, có 123 mẫu nước ngầm
được lấy để phân tích thì có 86 mẫu bị nhiễm bẩn với các kết quả khác
nhau như có màu lạ, độ đục cao gấp 5 lần cho phép, hàm lượng amoni cao
gấp nhiều lần cho phép, thậm chí có nhiều mẫu có chỉ số coliform, ecoli
cao hơn cho phép nhiều lần. Sau đó là hàng trăm hộ dân thôn Phú Mỹ, Mỹ
Đình, Từ Liêm phát hiện nguồn nước sinh hoạt sử dụng trong nhiều năm nay
bị nhiễm asen, có nơi vượt tới 43 lần mức cho phép…
Câu hỏi đầu tiên được đặt ra:
Vậy thì asen từ đâu ra? Lý giải được phần nào thắc mắc này sẽ giúp ích
cho việc phòng tránh hiệu quả hơn nhiễm độc asen vào cơ thể người, cây
trồng, vật nuôi.
Asen từ đâu đến?
GS.TS Phạm Hùng Việt, Giám đốc
Trung tâm Nghiên cứu công nghệ môi trường và Phát triển bền vững
(CETASD), là Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu: "Cơ chế làm chậm sự di chuyển
của asen qua tầng chứa nước sâu Pleistocene" được quốc tế đánh giá cao.
Được biết nhiều kết quả nghiên cứu trước đây của CETASD đã được sử dụng
làm cơ sở khoa học góp phần tư vấn cho Chính phủ xây dựng "Chiến lược
hành động quốc gia về nghiên cứu ô nhiễm asen trong nước ngầm và giải
pháp khắc phục", đồng thời góp phần giúp hoạch định chính sách về quản
lý khai thác nước ngầm và định hướng khai thác nước mặt dần thay thế
nước ngầm trên địa bàn Hà Nội.
Còn riêng về công trình đang
nói đến, hợp tác cùng Trường đại học Colombia, Hoa Kỳ, việc nó được đăng
tải trên Tạp chí Nature có thể coi như sự khẳng định về tầm quan trọng
của vấn đề cũng như công sức và năng lực của các nhà khoa học trước thế
giới. Mỗi năm, tạp chí này nhận được hơn 10.000 bài gửi đến, nhưng chỉ
có 8% trong số đó lọt qua được vòng bình duyệt và được công bố. Và đây
cũng mới là công trình thứ 5 của Việt Nam từ trước đến nay được công bố
trên tạp chí này.
Khởi thủy của câu chuyện bắt
đầu từ những năm 1997 - 1998. Khi ấy cũng đã có vài đơn vị nghiên cứu
địa chất trong nước thông báo về kết quả tìm thấy asen trong các mẫu lấy
từ khu vực sông Hồng, sông Mã và đồng bằng sông Cửu Long khá cao, tới
50 microgram/lít nước, trong khi ngưỡng cho phép chỉ là 10. Song, nó chỉ
thực sự nóng lên khi các nhà khoa học của CETASD biết đến những trường
hợp nhiễm độc asen trên người ở Bangladesh. Nhiều người dân nơi đây sau
thời gian ủ bệnh đã phát sinh hiện tượng bị sừng hóa chân tay, người
bỗng dưng nổi nhiều vết mẩn, đổi màu sắc tố da, sau đó trầm trọng hơn là
hư hỏng cơ quan nội tạng như thận, bàng quang và tử vong. Tất cả đều do
asen.
Có một chi tiết đáng lưu tâm là
trước đó, người dân Bangladesh cũng có thói quen dùng nước mặt lấy trực
tiếp từ sông hay giếng khơi giống như ở vùng đồng bằng Bắc bộ của Việt
Nam. Bởi nguồn nước không đảm bảo nên rất nhiều trường hợp bị tiêu chảy
hoặc bệnh ngoài da, ô nhiễm đường ruột. Những bệnh này thì thường phát
bệnh ngay, và dấu hiệu cũng rõ. Sau đó, khi được các tổ chức quốc tế
giúp cho việc khoan giếng để sử dụng nước ngầm, những bệnh này bớt hẳn.
Tuy nhiên, sau vài năm thì những trường hợp nhiễm độc asen bắt đầu được
ghi nhận. Nước giếng khoan nhiễm asen không khác gì nước không nhiễm
asen, rất trong và mát. Và bản thân những dấu hiệu nhiễm độc asen qua
nước ăn mất một thời gian ủ bệnh khá dài mới phát lộ…
Một nhóm nhà khoa học địa chất
Anh lúc bấy giờ vào cuộc, và kết luận rằng nguồn ô nhiễm asen ở
Bangladesh có nguồn gốc từ dãy Himalaya. Kết luận này đã khiến GS. TS
Phạm Hùng Việt cùng các cộng sự của mình nảy ra băn khoăn rằng, liệu với
cấu trúc địa chất thủy văn khá tương đồng, cộng với những dòng sông
chính của của Việt Nam như sông Hồng và sông Cửu Long đều có nguồn gốc
từ vành đai chân dãy Himalaya như dòng sông chính của Bangladesh có liên
quan với những báo cáo của ngành địa chất trước đó? Và thế là một loạt
các dự án khảo sát, nghiên cứu nước ngầm và ô nhiễm asen được tiến hành,
với sự hỗ trợ của các quốc gia phát triển và tổ chức quốc tế, đầu tiên
là từ Thụy Sĩ. Kết quả cho thấy mức độ ô nhiễm asen ở các vùng châu thổ
của Việt Nam rất cao.
Ngay thời điểm ấy, nhóm nghiên
cứu của GS. TS Phạm Hùng Việt đã chỉ ra rằng, trong số 9 nhà máy nước
trên địa bàn Hà Nội lúc bấy giờ, một nửa số đó nước lấy lên có ô nhiễm
asen trên mức cho phép. Nặng hơn cả là nhà máy nước Hạ Đình và Pháp Vân.
Thời điểm ấy lên tới gần 100 microgram/lít nước. Chỉ duy nhất một nơi
mà hàm lượng asen trong nước ngầm dưới mức tiêu chuẩn, đó là nhà máy
nước Ngọc Hà.
Loạt các nghiên cứu được CETASD
triển khai sau đó đã đạt được thành tựu, chẳng hạn như đánh giá mức độ ô
nhiễm asen trong nước ngầm thông qua biểu đồ chỉ số phụ trợ đo nhanh
ngoài hiện trường; nâng cấp năng lực xét nghiệm nước nhiễm asen cho các
phòng thí nghiệm và đỉnh cao, chính là đề tài nghiên cứu "Cơ chế làm
chậm sự di chuyển của asen qua tầng chứa nước sâu Pleistocene", với kết
luận mất 12 năm để ô nhiễm asen từ tầng nước nông (Holocene) xuống tầng
nước sâu Pleistocene nếu không có biện pháp ngăn chặn buộc cả thế giới
phải quan tâm…
Tuy nhiên, đấy là câu chuyện
khoa học. Còn về mặt thực tế đời sống, đến đây lại nảy sinh thắc mắc
rằng vậy thì cùng mức độ ô nhiễm như nhau, tại sao người dân Bangladesh
có những biểu hiện nhiễm độc asen rõ như vậy, còn ở Việt Nam lại gần như
không thấy? Chẳng lẽ do thể trạng người Việt Nam khác, thích nghi được
hơn chăng, hay là vì lý do nào khác?
Cần biết để mà tránh
Những nghiên cứu cụ thể của
CETASD hiển nhiên là có thể nhìn thấy ngay giá trị đối với đời sống. Bởi
vì với kết quả khoanh vùng rất chi tiết về mức độ ô nhiễm asen trong
nước ngầm sẽ giúp cho người dân khi chưa có nước máy sạch để dùng cần
phải cảnh giác với nước ngầm, không sử dụng bừa bãi.
Có một điều mà chắc chắn không
nhiều người biết, đó là asen cũng có dăm bảy loại. Asen vô cơ thì độc,
còn asen hữu cơ thì không gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Trong
asen vô cơ, thì asen5 không độc bằng asen3. Và asen3 này chính là thạch
tín. Sau một loạt các phân tích về cấu trúc phân tử, về cơ chế hấp thụ
và giải phóng của Fe2 (sắt 2) và Fe3 (sắt 3) đối
với asen, GS. TS Phạm Hùng Việt đi đến kết luận chính những chiếc bể lọc
bằng cát mà ta vẫn hay dùng để lọc nước giếng khoan là tác nhân loại
trừ tới 90% asen trong nước.
Rõ ràng mục đích ban đầu của
những bể lọc bằng cát và than nhằm mục đích làm trong nước, giữ lại
những cặn sắt xỉn vàng mà ta có thể nhìn thấy bằng mắt thường, thì đó
lại chính là động tác lọc asen thông qua hiện tượng đồng kết tủa tự
nhiên giữa asen3 hòa tan trong nước với Fe2 cũng hòa tan
trong nước. Bởi thế nên mới có chuyện ngược đời, rằng nơi nào nước giếng
khoan đưa lên càng nhiều cặn sắt, mùi tanh, thì nước sau khi được lọc
qua bể lại càng sạch asen bấy nhiêu! Ngay kể cả đối với các nhà máy
nước, đều có công đoạn làm thoáng, lọc sắt và các loại quặng có hại
trong nước cũng chính là lọc asen.
Ở những vùng vi sinh vật hoạt động mạnh, quặng sắt Fe3 không hòa tan trong nước biến đổi thành Fe2
hòa tan trong nước nhiều hơn, thì nước cũng ít bị ô nhiễm asen hơn.
Theo GS. TS Phạm Hùng Việt, đó là khu vực phía bắc sông Hồng, cụ thể là
cả một dải chạy dài từ Gia Lâm, qua khu Việt Hưng, lên đến tận Đông Anh…
Câu chuyện này của ông Giám đốc CETASD làm tôi nhớ đến trong một cuộc
hội thảo khoa học, đã có một nhà khoa học khuyên người dân đồng bằng
sông Cửu Long cố gắng hạn chế tối đa dùng nước giếng khoan, bởi hàm
lượng Fe2 hòa tan trong nước ở đây cực kỳ thấp, không đủ để lọc đi lượng asen tối thiểu…
Một thói quen nữa của người
Việt, theo GS. TS Phạm Hùng Việt, cũng có thể là một tác nhân tích cực
cho quá trình lọc asen khỏi nước uống, đó là thói quen không hay uống
nước trắng. Nếu như việc đun sôi nước hoàn toàn không có tác dụng trong
việc lọc asen trong nước thì chính thói quen uống trà, nước lá lại có
thể là lần lọc asen thứ hai trước khi đưa nước vào cơ thể.
"Khi chúng ta chế một ấm trà,
một cốc nước lá uống không ngon mà đổ đi, thì đó rất có thể là đã có một
thành phần hóa học trong cây chè, nước lá đã phản ứng với thành phần
của nước, asen chẳng hạn, khiến cho nước không ngon, hoặc thậm chí không
uống được. Thói quen này của người Việt khác hẳn với nhiều quốc gia
khác, thường chỉ uống nước lọc hoặc thậm chí, uống thẳng từ nguồn. Tuy
nhiên, nếu để kết luận rằng nó là một yếu tố lọc asen, thì cần phải có
nghiên cứu một cách nghiêm túc!"


